Ngày 15 tháng 02 năm 2012

THƠ XUÂN CỦA TIẾN SĨ THÁI THUẬN - TRIỀU LÊ - Dịch thơ: Nguyễn Hữu Thăng

Ngày 15 tháng 02 năm 2012


Nhân dịp đầu xuân Nhâm Thìn chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tác phẩm thơ cổ chủ đề về mùa xuân của Tiến sĩ Triều Lê: Thái Thuận (Phó nguyên súy Hội Tao Đàn của vua Lê Thánh Tông), gồm 6 bài: Sơ Xuân, Xuân Nhật, Mai Ảnh, Xuân Mộ, Xuân Vãn, Thương Xuân.
Xin chân thành cám ơn TG Nguyễn Hữu Thăng đã cho chúng ta cùng thưởng thức hương vị xuân xưa qua tác phẩm văn học cổ Việt Nam.

ĐÔI NÉT VỀ NHÀ THƠ THÁI THUẬN
Thái Thuận (1441-?), tự: Nghĩa Hòa, hiệu: Lục Khê, biệt hiệu: Lã Đường; là nhà thơ Việt Nam thời Hậu Lê.
Ông sinh ra trong một gia đình bình dân ở thôn Đoài, tổng Liễu Lâm, phủ Siêu Loại, thừa tuyên Kinh Bắc (nay thuộc xã Song Liễu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
Thuở trai trẻ, có thời ông làm lính dạy voi, về sau mới đi học. Năm Ất Mùi (1475), đời Lê Thánh Tông, ông thi đỗ Tiến sĩ.
Ban đầu, ông làm quan ở Viện Hàn lâm trải 20 năm; sau giữ chức Tham chính sứ Hải Dương, và được cử đi công cán qua các vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thuận Hóa...
Ông là người có đạo đức, lại có tài văn chương, được người đương thời rất kính trọng. Vì vậy, ông được vua Lê Thánh Tông cho dự chức Tao đàn Sái phu (sau thăng Tao đàn phó nguyên súy) trong Hội Tao Đàn do chính nhà vua thành lập năm 1495.
Nhà thơ Thái Thuận mất năm nào không rõ.
Sinh thời, ông sáng tác hàng nghìn bài thơ chữ Hán, nhưng chưa soạn thành tập. Sau khi ông mất, người con là Thái Đôn Khác và người học trò là Đỗ Chính Mô mới ra công sưu tập được vài trăm bài, viết bài Tựa, đặt tên là Lã Đường di cảo (Bản thảo còn lại của Lã Đường), và hoàn thành vào năm Hồng Thuận thứ 10 (1510) đời vua Lê Tương Dực.
Sau đây là 6 bài thơ chủ đề về mùa xuân của Tiến sĩ Thái Thuận qua bản dịch của TG Nguyễn Hữu Thăng.
                              
初春

三冬过了一春归
做暖东风放放吹
冰雪冻痕铺水面
乾坤生意上林枝
柳还旧绿鹦犹静
桃试新红蝶未知
日暮乡贯回首望
草心游子不胜悲
                  
SƠ XUÂN
Tam đông quá liễu nhất xuân quy
Tác noãn đông phong phóng phóng xuy
Băng tuyết đông ngân phô thủy diện
Càn khôn sinh ý thượng lâm chi
Liễu hoàn cựu lục oanh du tĩnh
Đào thí tân hồng điệp vị tri
Nhật mộ hương quán hồi thủ vọng
Thảo tâm du tử bất thắng bi

Dịch nghĩa :
ĐẦU XUÂN
Ba tháng mùa đông đã qua đi, một mùa xuân lại về
Gió đông đem hơi ấm nhè nhẹ thổi
Dấu vết băng tuyết đọng phô bày trên mặt nước
Ý của đất trời gửi gắm trên nhánh cây rừng
Liễu trở lại màu xanh cũ, con oanh còn im tiếng
Đào thử màu hồng mới, con bướm chưa hay biết
Trời tối, ngoảnh đầu trông về quê cũ
Lòng người con nơi xa buồn thương vô cùng

Dịch thơ:
Ba tháng đông qua, xuân lại về
Gió tràn hơi ấm khắp làng quê
Nước phô băng tuyết còn trong trẻo
Chồi ẩn càn khôn hết tái tê
Liễu lại thắm xanh, oanh lặng hót
Đào vừa hé đỏ, bướm chưa mê
Tối trời, ngoảnh lại nhìn quê cũ
Nỗi nhớ niềm thương bấy não nề .
                                      -----------------------

梅影

倒挂斜穿淡又浓
瑶台纸帐暗相通
移来窗外风吹后
横过山前露照中
东阁传神清画笔
西湖泻兴苦吟翁
珠帘仿佛魂无碍
疑是真人在雪宫

MAI ẢNH
Đảo quái tà xuyên đạm hựu hồng
Dao dài chỉ trướng ám tương thông
Di lai song ngoại phong xuy hậu
Hoành quá sơn tiền lộ chiếu trung
Đông Các truyền thần thanh họa bút
Tây Hồ tả hứng khổ ngâm ông
Châu liêm phảng phất hồn vô ngại
Nghi thị chân nhân tại tuyết cung

Dịch nghĩa:
HÌNH BÓNG HOA MAI
(Hoa nở) ngửa nghiêng ngang dọc, màu nhạt lại màu đậm
Nối tiếp nhau kín trướng giấy đài ngọc
Gió đẩy đưa qua lại ngoài cửa sổ
Ngang qua trước núi trong ánh sương chiếu
Ở lầu Đông, cái thần của hoa truyền vào ngọn bút vẽ thanh tao
Ở hồ Tây gợi hứng để nhà thơ ngâm vịnh mãi
Hương hoa luôn phảng phất cạnh rèm châu
Ngờ rằng có tiên ở nơi cung tuyết .

Dịch thơ:
Chi chít bốn bề khoe sắc tươi
Đài dao trướng giấy rực trong ngoài
Đung đưa bên cửa theo làn gió
Thấp thoáng ánh sương trước núi đồi
Đông Các họa thư say ngọn bút
Tây Hồ ngâm vịnh đắm tình người
Rèm châu phảng phất dường vô tận
Cung tuyết tiên sa tự cõi trời?                     

Chú thích:
-Đông Các (lầu Đông): Theo tứ thơ Đỗ Phủ “ Đông các quan mai động thi hứng - hoàn như Hà Tổn tại Dương Châu” (Nơi gác Đông xem mai, gợi hứng thơ, không khác gì Hà Tổn tại Dương Châu): Hà Tổn trồng ở Dương Châu một cây mai, thường ngâm vịnh dưới gốc, sau đổi qua đất Lạc, nhớ Mai xin trở lại Dương Châu, đúng lúc mai nở rộ khiến ông say ngắm suốt ngày.
- Tây Hồ xưa có rừng mai. Nhà thơ, họa sĩ Lâm Bô làm nhiều thơ, vẽ nhiều tranh về mai,  coi mai như vợ, hạc như con. Ông từng vào rừng thưởng hoa bị lạc, trở thành giai thoại.
- Cung tuyết : Chỉ cung của tể tướng Vương Hội, do thời trẻ từng có bài thơ vịnh mai “ Tuyết trung vị luận điều canh sự - tiên hướng bách ba đầu thượng khai” (trong tuyết chưa vội bàn đến làm canh ngon, trước hết hãy nhìn phía trăm hoa nở đầu cành).
-----------------------   

春日

重重帘影月斜移
无人语夜迟
枕上梦魂谁嗅醒
杜鹃声在百花枝

XUÂN NHẬT
Trùng trùng liêm ảnh nguyệt tà di
Thích tú vô nhân ngữ dạ trì
Thẩm thượng mộng hồn thùy khứu tỉnh
Đỗ quyên thanh tại bách hoa chi

Dịch nghĩa:
NGÀY XUÂN
Bóng rèm cửa lớp lớp lay động theo ánh trăng tà
Ngồi thêu một mình không có người trò chuyện, thấy đêm dài
Hồn mộng trên gối biết có ai đánh thức 
Tiếng cuốc vọng từ cành trăm hoa

Dịch thơ:
Trăng đưa lớp lớp bóng rèm
Ngồi thêu cô quạnh thấy đêm sao dài
Hồn mơ say tỉnh cùng ai
Bâng khuâng tiếng cuốc gọi ngoài khóm hoa.
-----------------------

春感

乾始坤生共到头
丝毫未报我心愁
梅花十二楼台梦
草色三千世界愁
鬓雪东风吹不散
泪珠夜雨滴空流
此身此日将何似
浩浩长江泛泛舟

XUÂN CẢM
Càn thủy khôn sinh cộng đáo đầu
Ty hào vị báo ngã tâm ưu
Mai hoa thập nhị lâu đài mộng
Thảo sắc tam thiên thế giới sầu
Mấn tuyết đông phong xuy bất tán
Lụy châu dạ vũ trích không lưu
Thử thân thử nhật tương hà tự
Hạo hạo trường giang biếm biếm châu

Dịch nghĩa:
CẢM XÚC MÙA XUÂN
Từ khi trời đất sinh ra cho tới nay
Chưa hề báo đáp được (công ơn cha mẹ)- điều ta phiền muộn
Mười hai tầng lầu chỉ là giấc mộng dưới gốc cây hoa mai
Ba nghìn thế giới  sắc cỏ xanh vẫn đầy sầu muộn
Tóc trắng như tuyết, gió đông thổi không tan
Nước mắt như mưa đêm chảy mãi
Thân này ngày này cứ như vậy hay sao?
Sông dài mênh mông, thuyền cứ lênh đênh vô định.
         
Dịch thơ:     
Trời đất sinh ra hỏi đến giờ
Ơn dày chưa trả, những buồn lo
Lâu đài hoa lệ đều hoài mộng
Thế giới xanh rờn chỉ ước mơ
Gió chẳng thổi tan đầu điểm tuyết
Lệ sao tuôn chảy mắt sa mưa 
Vật vờ cuộc sống trôi ngày tháng
Thuyền cứ lênh đênh chẳng bến bờ.
                                     
Chú thích:
- Càn khôn: Quẻ càn, quẻ khôn trong kinh dịch, chỉ trời đất, cha mẹ.
- Tam thiên thế giới (ba ngàn thế giới): Theo giáo lý nhà Phật, trong vũ trụ có ba ngàn thế giới, thế giới người ta đang sống gọi là cõi Ta bà
-----------------------

春暮
                                                         
百年身世嘆浮苹
春去誰能不老成
流水橋邊楊柳影
夕陽江上鷓鴣聲
月於煙樹雖無分
風與天香尚有情                         
九十韶光容易過
草心游子苦難平

XUÂN MỘ
Bách niên thân thế thán phù bình
Xuân khứ thùy năng bất lão thành
Lưu thủy kiều biên dương liễu ảnh
Tịch dương giang thượng giá cô thanh
Nguyệt ư yên thụ tuy vô phận
Phong dữ thiên hương thượng hữu tình                         
Cửu thập thiều quang dung dị quá
Thảo tâm du tử khổ nan bình.         
                           
Dịch nghĩa:
CHIỀU XUÂN
Thân thế trăm năm than cho kiếp bèo nổi
Xuân đi rồi có ai không thành người già
Bên cầu nước chảy in bóng dương liễu
Trên sông chiều tà tiếng gà gô (đa đa) não nuột
Trăng lồng trong khói cây tuy không có phận gì
Gió quyện hương trời vẫn có tình với nhau
Chín chục tuổi xuân qua một cách dễ dàng
Khiến nỗi lòng người con đi xa khó bình lặng được.    
                          
Dịch thơ:     
Thân thế trăm năm kiếp nổi trôi
Xuân qua ai tránh khỏi già đời
Bên cầu nước chảy soi hình liễu
Dưới bến đa kêu não dạ người
Trăng dẫu hững hờ buông tán lá
Gió còn xao xuyến quyện hương trời 
Thiều quang chín chục qua sao nhẹ
Day dứt cõi lòng mãi chẳng nguôi

          Chú thích:
            - Du tử (người con đi xa): Mượn từ trong bài thơ “Du tử ngâm” của Mạnh Giao “Từ mẫu thủ trung tuyến, du tử thân thượng y” (Sợi chỉ trong tay mẹ hiền, tấm áo trên mình người con đi nơi xa) .
            - Thảo tâm (lòng cỏ) : Cũng mượn từ bài thơ trên : “Thuỳ ngôn thốn thảo tâm, báo đắc tam xuân huy” (Ai bảo rằng tấc lòng cỏ, báo đền dược đức sáng ba xuân) .
-----------------------


春晚
参差野树暮烟笼
四顾微茫夕照中
歌管楼台芳草雨
秋千庭院落花风
诗书醉我三杯酒
岁月惊人两鬓逢
云阙未应甘酯断
故乡江上见来鸿

XUÂN VÃN
Sâm si dã thụ mộ yên lung
Tứ cố vi mang tịch chiếu trung
Ca quản lâu đài phương thảo vũ
Thu thiên đình viện lạc hoa phong
Thi thư túy ngã tam bôi tửu
Tuế nguyệt kinh nhân lưỡng mấn bồng
Vân khuyết vị ưng cam chỉ đoạn
Cố hương giang thượng kiến lai hồng

Dịch nghĩa:
HOÀNG HÔN MÙA XUÂN
Khói chiều tỏa trên cây cao cây thấp ngoài đồng
Bốn bề  mờ ảo trong ánh hoàng hôn
Tiếng ca tiếng sáo dìu dặt trong lâu đài, mưa rơi trên cỏ thơm
Cây đu trong sân đu đưa, gió thổi hoa rụng
Thơ phú thư pháp làm ta say cùng ba chén rượu
Năm tháng làm ta kinh sợ tóc rối như cỏ bồng
Chốn cửa rồng chưa đành lòng ra về vì ngọt bùi (dâng cha mẹ) bị đứt
Trên sông chợt thấy con chim hồng từ quê hương bay đến

Dịch thơ:
Bảng lảng khói chiều cây nội đồng
Hoàng hôn mờ ảo phủ mênh mông
Người ca, sáo thổi, mưa trên cỏ
Gió cuốn, hoa tàn, đu liệng không
Người đắm thi thư say túy lúy
Tóc qua năm tháng rối lung tung
Ngọt bùi cửa khuyết lòng chưa thỏa
Quê mẹ chim hồng thoáng mặt sông.
-----------------------

伤春

水流东逝日西奔
九十韶光几见存
雨暗云埋芳草渡
莺愁燕惨落花村
浮生易悟南华梦
乐事谁同北海樽
江上不堪回首望
烟波渺渺又黄昏

THƯƠNG XUÂN
Thủy lưu đông thệ nhật tây bôn
Cửu thập thiều quang kỷ kiến tồn
Vũ ám vân mai phương thảo độ
Oanh sầu yến thảm lạc hoa thôn
Phù sinh dị ngộ Nam Hoa mộng
Lạc sự thùy đồng Bắc Hải tôn
Giang thượng bất kham hồi thủ vọng
Yên ba diếu diếu hựu hoàng hôn

Dịch nghĩa:
THƯƠNG XUÂN
Nước chảy xuôi về đông, mặt trời chạy về tây
Chín chục thiều quang (thời thanh xuân) còn được bao lâu nữa?
Mưa và  mây u ám bến đò cỏ thơm
Yến oanh sầu thảm nơi thôn xóm hoa rụng
Sống phù phiếm dễ lầm giấc mộng của Nam Hoa
Cảnh vui khó ai bằng được Bắc Hải
Trên sông ngoảnh đầu lại lòng buồn không chịu nổi
Khói sóng mờ mờ rồi trời chạng vạng tối

Dịch thơ:
Mặt trời cứ lặn, nước trôi xuôi
Thấm thoắt xuân xanh sắp héo rồi
Mưa ám mây che bờ cỏ ngát
Oanh buồn yến thảm xóm hoa rơi
Nam Hoa mơ mộng nơi phù phiếm!
Bắc Hải nồng say chốn thỏa chơi !
Ngoảnh lại trên sông lòng tủi khổ
Mịt mù khói sóng tối tăm trời.            

Chú thích:
- Nam Hoa mộng: Giấc mộng Nam Hoa. Theo sách Nam Hoa của Trang Chu: Trang Chu mơ thấy mình hóa bướm, khi tỉnh ngỡ ngàng không biết mình nằm  mơ hóa bướm hay bướm mộng hoá ra mình.
- Bắc Hải tôn: Chén rượu của Bắc Hải, tên hiệu của Khổng Dung, thời Hậu Hán, tính hào hoa, luôn đông khách, chén rượu không mấy lúc trống không.


Máy tính của bạn chưa thể hiện được chữ Hán, hãy đọc bài này:

5 Ý kiến

Ngọc Thanh
12:05 15/02/2012

Xin xem lại chữ "quán" (câu 7) bài "Sơ xuân". Câu thơ Thôi Hiệu (đời Đường):
"Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu!"

Trần Hợp
12:25 15/02/2012

Em thấy đúng là chữ quán (贯)
= quê quán

Trần Hợp
12:29 15/02/2012

Máy nào chưa cài phông hán nôm không nhìn thấy đủ nét, ngày mai sẽ có bài hướng dẫn cài thêm phông cữ hán nôm, rất đơn giản, dễ cài đặt và đọc được trên Web chữ hán nôm.
Xin cám ơn.

Ngọc Thanh
19:01 15/02/2012

Trong lịch sử Việt Nam thời kì phong kiến, có những ông vua, ông chúa hay chữ. Đặc biệt, Lê Thánh Tông còn lập ra hội Tao Đàn tự mình làm Nguyên súy (tập hợp 28 vị quan chức - nhà thơ đương thời - gọi là nhị thập bát tú) để thỏa mãn thú chơi của mình. Tôi biết đến Lê Thánh Tông với nhiều bài thơ khẩu khí. Nhưng tôi thích nhất bài "Minh lương" (Vua sáng tôi hiền):
"Cao Đế anh hùng cái thế danh
Văn Hoàng trí dũng phủ doanh thành
Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo
Vũ Mục hung trung liệt giáp binh
Thập Trịnh đệ huynh liên quí hiển
Nhị Thân phụ tử bội ân vinh
Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự
Bát bách Cơ Chu lạc trị bình"
Và Thái Thuận là Phó Tao Đàn. Nhưng chưa biết nhiều về thơ Thái Thuận. Được đọc những bài thơ xuân vào đúng mùa xuân, qua các bản dịch đầy chất xuân và chất thơ của nhà thơ NHT thật là thú vị!

Ngọc Thanh
08:22 16/02/2012

Qua tìm hiểu về thơ Đường, tôi thấy có hai trường hợp đáng lưu ý:
- Tác giả cố tình "phá cách", "phá luật". Ví dụ bài "Hoàng hạc lâu" của Thôi Hiệu:
"Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu."
- Để cho đúng luật (bằng trắc) hoặc theo qui luật thuận âm thanh, ở một số vị trí trong câu thơ (nhất là ở vị trí "nhị, tứ, lục"), tác giả phải phiên âm (đọc chệch) đi.
Ví dụ:
1.Chữ "há" (hạ)trong bài "Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng" của Lí Bạch:
"Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyệt há (hạ) Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu."
2. Chữ "thăng" (thắng) trong câu cuối bài "Đôn Thư" của cụ Tú Cống:
"Tồn lưu kim cổ bất thăng (thắng) doanh"
Vậy, trường hợp chữ "quán", chữ "thắng" trong hai câu kết bài "Sơ xuân" là phá luật hay nên phiên âm "chệch" đi cho đúng luật.
Xin các bậc túc nho chỉ giáo!

Ý kiến của bạn

"MỖI ĐỘC GIẢ CŨNG CÓ THỂ LÀ MỘT TÁC GIẢ"
Ý kiến, bài viết giao lưu xin được viết bằng tiếng Việt có dấu. Đề nghị ghi rõ bút danh hoặc tên thật và địa chỉ để thuận tiện cho việc trao đổi.
- Mã chèn ảnh: [img]link ảnh[/img]
- Mã chèn fim từ youtube: [youtube]link video[/youtube]
Trân trọng cám ơn quý vị và các bạn đã đóng góp ý kiến và giao lưu với ĐTQM.

NHẬN XÉT GẦN ĐÂY

Google+