Ngày 18 tháng 05 năm 2011

BÀI THƠ CHỮ HÁN CỦA ÔNG TÚ TÀI... TÂY

Ngày 18 tháng 05 năm 2011

Ngọc Thanh
      Ai ở xa quê mới về, ra lễ đình có thể sẽ ngạc nhiên, ngỡ ngàng về bức bình phong mới hoàn thành đầu năm Tân Mão này. Đây là công trình ghi nhận sự cố gắng của ban bảo vệ di tích lịch sử và của dân làng Đôn Thư, sự đóng góp của cả những người khách xa gần hảo tâm công đức.
Tôi không rành về kiến trúc nên chỉ cảm thấy một cách mơ hồ về vẻ đẹp và ý nghĩa của nó. Nhưng về thơ, câu đối, văn tự chép vào bức bình phong thì tôi hoàn toàn tán đồng và tâm đắc với ý tưởng của người tổ chức. Bởi những tuyệt phẩm ghi tạc trên đó đã bổ sung cho nhau thể hiện hồn cốt của làng Đôn Thư với niềm tự hào, kiêu hãnh về truyền thống đẹp đẽ của một làng quê "địa linh nhân kiệt", "mĩ tục khả phong", có ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo dục, nhắc nhở các thế hệ dân làng Đôn Thư phấn đấu giữ gìn và phát huy những nét đẹp truyền thống đó của quê hương. Người ta thường hay nói những giá trị văn hóa, tinh thần cúa một đất nước là quốc hồn, quốc túy thì cũng có thể nói những giá trị văn hóa tinh thần ở cấp độ làng là "làng hồn, làng túy". Và tôi nghĩ những tác phẩm ghi tạc trên bức bình phong ở đình làng là một trong số những giá trị văn hóa thuộc về "làng hồn, làng túy" đó, là những di sản phi vật thể, những báu vật tinh thần của làng. (Tất nhiên là còn nhiều thứ báu vật khác nữa)
Trên bức bình phong, phía bên phải chép bài thơ "Đôn Thư" bằng chữ Hán của cụ tú tài Tây Nguyễn Văn Cống,một tác phẩm thể hiện được những nét tinh túy của làng ta. Trong phạm vi bài viết này, chỉ xin bày tỏ cảm nhận chủ quan của kẻ hậu sinh trước tác phẩm để đời của bậc tiền bối. (Còn các văn bản khác có thể sẽ đươc đề cập trong bài viết khác)
Cụ tú Cống là tên quen thuộc mà dân làng ĐônThư thường gọi vì cụ có học vị tú tài, nhưng là tú tài thời Tây học. Khi cụ "đăng quang" là khi các ông nghè ông cống đã "nằm co", người ta đã "vứt bút lông đi giắt bút chì" (Tú Xương) rồi. Có thể nói, học vị mà cụ Cống đạt được là học vị cao nhất làng Đôn Thư hồi đó. Và có thể có người cho rằng, cụ chỉ giỏi chữ Tây, còn chữ Tàu chắc là "thường" thôi. Nhưng nghĩ như vậy có lẽ là nhầm. Bởi vì, chỉ cần đọc bài "Đôn Thư" là đủ biết tài năng thơ phú Hán học của cụ.
 Cũng như nhiều gia đình ở nông thôn khác, gia đình cụ Cống và gia đình tôi có họ hàng mấy bề, lại cùng thế hệ, cùng yêu văn chương, chữ nghĩa nên quan hệ giữa cha tôi và cụ Cống có phần khá thân mật. Lúc sinh thời, hồi cụ Cống tuổi đã khá cao vẫn còn đạp cái xe Mifa từ Hà Nội về, hầu như lần nào cụ cũng đến nhà tôi chơi. Và trong câu chuyện giữa cụ và cha tôi mà tôi nghe ké, thế nào cũng có chuyện văn thơ. Thế là, trong trí nhớ của tôi có thêm những vần thơ, câu đối mà tác giả là cụ Tú Cống. Vì vậy, thời gian gần đây, khi gặp con trai út cụ, người mà tôi cảm thấy tính cách, ngôn ngữ khá giống cha, tôi đùa: Có khi chú không thuộc thơ cụ Cống bằng cháu. Bởi tôi có thể đọc ra ngay những câu thơ ngộ nghĩnh, vui vui của cụ Cống kiểu như:
 "Thơ tôi đem bán chợ trời
Ai mà mua được giá thời không bao..."
Hay:
 " Trẻ con hò hét như bầy sói
         Người lớn loăng quăng tựa đám cừu..."
Và câu đối:
"- Vì độc lập nên xương tan, máu đổ
- Muốn tự do phải áo ấm cơm no" ...
Cho nên, không có gì lạ khi bài thơ "Đôn Thư" và hình ảnh thân quen, đáng kính của cụ Cống đã in vào tâm trí tôi từ hồi còn trẻ. Hình như cụ còn một bài chữ Hán khá hay nữa viết về chùa Hương. Nhưng có lẽ vì quá yêu quê Đôn Thư và quá yêu bài "Đôn Thư" mà tôi lú lẫn không nhớ bài thơ ấy, để chỉ chú tâm vào "Đôn Thư đê lí ...":
Phiên âm chữ Hán:
                     "Đôn Thư đê lí, trúc cao thanh
                               Hổ bái tượng triều, thế địa anh
                               Các lão lương thần, uy vũ kiếm
                               Hoa khôi thi bá, bút cao danh
                               Lưỡng xà kì nghĩa, thiên thu sử
                               Cô khách hàn nho, nhất ý thành
                               Tú nữ, hiền nam, văn vật cảnh
                               Tồn lưu kim cổ, bất thăng doanh"

         Dịch thơ:            
                     Đôn Thư thôn thấp, trúc cao xanh
                               Hổ lễ voi chầu, kiểu đất linh
                               Đông các lương thần, oai kiếm rạng
                               Thám hoa thi bá, bút danh lừng
                               Rắn đôi nghĩa lạ, ngàn năm chép
                               Khách lẻ trò nghèo, một nguyện thành
                               Gái đẹp, trai hiền, phong cảnh đẹp
                               Xưa nay còn mãi, thật là đông"

                                   (Tác giả tự dịch)
Bài thơ làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật bằng chữ Hán có thể gắn cho nhãn hiệu "Ma de in China" kiểu như xe máy Dream Honda gắn nhãn hiệu " Ma de in Japan". Nghĩa là nó như một bài thơ gốc Hán "nguyên bản" về hình thưc nghệ thuật, chỉ có thi liệu là lấy từ hình ảnh đất và người làng Đôn Thư của Việt Nam. Nó là thứ thơ cực kì hàm súc, cô đọng "ý tại ngôn ngoại", được chưng cất từ tâm hồn và ngôn ngữ, loại ngôn ngữ tiềm tàng ý nghĩa, càng tìm hiểu càng thấy sâu sắc. Tất cả làm nổi bật những nét đẹp đẽ nhất, tinh hoa nhất, cái "chất" đã khiến làng Đôn Thư thành danh trong hàng tỉnh với tư cách là "...đất nền văn hiến- danh lưu truyền vọng đến ngàn năm "(Trường ca ĐônThư"- Phạm Vũ Diên)
Vâng, bài thơ viết về "đất" và "người" làng Đôn Thư, nhưng có thể nhận thấy ngay là nhà thơ dành nói về "người" nhiều hơn. Phần nói về "đất" chỉ là những nét khái quát, ghi lại ấn tượng đậm nhất của tác giả, làm nền để tôn vinh, ca ngợi con người. Nếu tính tương đối chính xác, chi li thì phần dành cho "đất" là 2,5 câu, trong khi phần dành cho "người" tới 4,5 câu. Dù vậy, với tài năng nghệ thuật, nhà thơ vẫn tạo được sự thú vị cho người đọc cả ở hai phần.
Đúng vậy, không như thường thấy trong bài "bát cú", ở 2 câu đề, tác giả đi ngay vào tả cảnh Đôn Thư theo lối chấm phá quen thuộc của nghệ thuật thơ Đường gợi ra ấn tượng về đất Đôn Thư. Ở câu 1, sẽ chẳng có gì đáng nói vì nhà thơ lại tả "trúc" (tre, trúc ấy). Mà tre, trúc thì ngày xưa làng nào chả có, chả nhiều. "Bóng tre trùm lên âu yếm làng, bản, xóm, thôn...Bóng tre trùm mát rượi" (Thép Mới). "Làng tôi xanh bóng tre"(Văn Cao). "Làng tôi sau lũy tre mờ xa" (Hồ Bắc). "Đất quê ta mãi xanh màu tre xanh" (Nguyễn Duy). "Trúc xinh trúc mọc đầu đình - Em xinh em đứng một mình cũng xinh" (ca dao). Những câu văn, câu thơ, câu ca ấy chẳng đã viết về tre, trúc với tình cảm chan hòa, thân mật của loài cây gắn bó tha thiết cùng với người như là linh hồn của làng quê thân thuộc Việt Nam gợi ra hình ảnh về cuộc sống thanh bình, yên ả xưa kia  đó sao? Ở đây, nhà thơ không tả kĩ chỉ nói rất gọn "trúc cao xanh". Nhưng cũng đủ cho thấy đặc điểm cảnh vật làng Đôn Thư ngày ấy, gợi tả cuộc sống bình yên của nhiều thế hệ dân làng. Nhiều tre lắm. Suốt dọc bờ sông, lại cả một không gian rộng phía trái làng từ đường quốc lộ vào chỉ thấy ao đầm và tre trúc, tre trúc và ao đầm ("liên chi đàm, trúc chi tân" mà). Và tre trúc thì vừa "cao" lại vừa "xanh".  Vì Đôn Thư là "thôn thấp" nên tre trúc mới cao và xanh như vậy. Và khi tre, trúc đã cao xanh thì lại gợi cho ta cảm giác về sự thanh sơ, cao khiết (trúc vốn được coi là loài cây quân tử ngày xưa). Không nói đến sông, chỉ nói "thôn thấp" và "trúc cao xanh "mà gợi ra sông, để người đọc tha hồ mà tưởng tượng. Tình yêu quê hương sâu đậm của cụ Cống đã bộc lộ ngay trong cách tả gọn mà sắc ấy.Tiếc là bây giờ tốc độ đô thị hóa quá nhanh, tre trúc không còn đất mà cao xanh nữa.
Nếu câu 1 gợi tả cảnh làng thì câu 2 là một bình luận về thế đất theo cách nhìn phong thủy. Không phải kiểu "long xà" là nơi ở tốt mà hơn thế là "hổ lễ, voi chầu" gần như "rồng chầu hổ phục" của kinh thành Thăng Long. Đúng là thế đất "linh" (dịch thoát ý chữ "anh"). Câu thơ ngầm bộc lộ niềm sung sướng, tự hào về thế đất làng và qua đó là phong cảnh quê hương.
"Địa linh" tất sinh "nhân kiệt". Bốn câu tiếp, bài thơ nói về con người Đôn Thư bằng sự chọn lọc tinh tế. Đôn Thư không thiếu người tài, không thiếu những sự tích mang tính huyền thoại. Mấy chục dòng họ cùng chung sống hiền hòa, gắn bó trên mảnh đất " Liên đàm tiếp quế hương- Hát chử diên thư trạch"(Vũ Phạm Hàm) hầu như không dòng họ nào không có người xuất chúng, đóng góp vào sự vẻ vang chung của cả làng. Nhà thơ đã tìm chọn những con người tiêu biểu nhất, những sự tích có ý nghĩa nhất để tôn vinh, ca ngợi.
Trong 2 câu thực, nhà thơ nhắc đến 2 danh nhân văn hóa không phải chỉ của làng mà còn của đất nước. Một người đứng hàng quan võ, bậc lương đống của triều đình, nổi tiếng "lương thần", "uy vũ" bao trùm thiên hạ (lưỡng quốc đông các đại học sĩ Vũ Công Trấn). Một người thuộc ngạch quan văn, từng đạt danh vị tam nguyên thám hoa lẫy lừng cả nước "ba nghìn sĩ tử phải phục tài, nhường bước" (Việt Thanh), thơ phú vào hàng "thi bá bút cao danh" (Tam nguyên thám hoa Vũ Phạm Hàm). Hỏi cả nước, mấy làng được như thế. Từ ngữ chọn lọc tinh tế, chính xác, súc tích chứa đựng niềm hãnh diện sâu xa của nhà thơ. Hẳn là mỗi người dân Đôn Thư, ai cũng có niềm tự hào khi nghĩ về cha ông, khi nghĩ về quê hương đã sản sinh ra những con người ấy.
Trong hai câu luận, bài thơ vẫn tiếp tục mạch nói về con người, nhưng lại gắn với những sự tích đậm chất huyền thoại. Và nếu ở hai câu thực, ý thơ thiên về tôn vinh nhân tài xuất chúng thì ở hai câu này, ý ca ngợi lại nổi trội hơn. Huyền thoại "rắn đôi' (ông Cộc, ông Dài) được đề cao là "kì nghĩa" (nghĩa lạ), chuyện kì lạ, hiếm thấy, đặc biệt về nghĩa tình thủy chung như nhất giữa vật và người, giữa thế giới trần gian và thế giới siêu nhiên. Và vì đặc biệt, hiếm có nên đáng lưu vào sử sách ngàn thu "cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau". Còn bài học về vị "cô khách hàn nho" là ở ý chí, ở tinh thần một lòng quyết tâm vượt khó vươn lên thực hiện lí tưởng của đấng nam nhi thời phong kiến "tu, tề, trị, bình". Cụm từ " nhất ý thành" trong nguyên tác được dịch là "một nguyện thành" đặt trong sự đối lập với những chữ "cô" (lẻ loi, một mình), chữ " hàn" (rét, lạnh) khẳng định nghị lực cao đẹp của vị nho sinh chí khí hơn người, thật đáng khâm phục. Tác giả không hề phân biệt "chủ -khách" để ngợi ca một cách vô tư. Đối với  nhà thơ, ai đáng "ngả mũ " thì đều " kính cẩn nghiêng mình" dù người đó có là ai. Một cử chỉ cao đẹp, đáng trân trọng! Phải chăng chính điều đó làm cho tấm gương về người "cô khách' càng thêm trong sáng?
Có thể thấy, hai cặp thơ thực, luận chứa đựng ý nghĩa giáo dục cực kì sâu sắc. Đó là những bài học nhân sinh về con người, về cuộc đời , về sự nghiệp không chỉ của một thời mà còn mãi mãi.
Đến hai câu kết thì đúng như nhiệm vụ của nó là gói lại. Nhưng bài thơ vừa gói lại vừa mở. Câu 7 là những nhận định khái quát và là những khái quát nâng cao, mở rộng. Câu thơ chia hai vế rõ rệt. Một vế khái quát về "người", một vế khái quát về "đất", trình tự ngược lại với phần cụ thể ở trên. Trước hết là người. Hình ảnh người và sự ở 4 câu thực, luận cụ thể bao nhiêu thì ở đây khái quát bấy nhiêu. Nếu không có những khái quát này thì chẳng hóa là nhân tài ĐônThư chỉ có ở thời xưa và chỉ có các bậc "tu mi nam tử" thôi sao?  Không, người Đôn Thư toàn " trai hiền, gái đẹp" cả, thời nào cũng có, xưa cũng như nay và mãi mãi về sau. (Xin hiểu chữ "hiền", chữ "đẹp theo nghĩa rộng của nó)
Đấy là người. Còn đất là đất "văn vật cảnh", văn minh, văn hóa, văn hiến...
Tất cả mãi mãi "tồn lưu" theo thời gian vô cùng, vô tận từ "cổ" chí "kim", "sáng muôn lòng, vạn kiếp sau" (Tố Hữu). Câu cuối bài thơ không đóng mà mở là như vậy. Nó có độ dư ba, ngân vang hoài không dứt, khiến ta không chỉ tự hào về quá khứ mà còn chứa chan niềm hi vọng và tin tưởng ở tương lai tươi sáng của quê hương...
Xin nói thêm cho khách quan: Nếu xét kĩ theo kiếu cân, đong, đo, đếm tỉ mỉ thì ở hai câu thực, luận so với nguyên tắc đối của thơ Đường luật thì chưa hoàn toàn chuẩn chỉ 100 phần trăm. Và bản dịch thơ của chính tác giả lại không đúng một vần (xanh, linh, lừng, thành, đông). Song điều đó không hề làm lu mờ giá trị toàn diện của tác phẩm. (Xin đề nghị các bậc túc nho, các nhà thơ và tất thảy mọi người hãy mạn phép cố tác giả mà dịch lại bài thơ cho hay hơn, chỉnh hơn, ngõ hầu giữ lại cho muôn đời con cháu làng Đôn Thư một "viên ngọc thơ" quí, càng mài càng sáng thêm).
      Xuất phát từ lòng yêu mến quê hương, yêu mến những giá trị văn hóa tinh thần của quê hương, người viết bài này chỉ có một mong muốn: Người làng Đôn Thư hãy biết quí trọng, gìn giữ và phát huy những tinh hoa văn hóa  to lớn mà cha ông đã tạo lập (không phải chỉ là văn thơ). Những gì là hay, là tốt thì cùng nhau trân trọng, nâng niu để làng Đôn Thư mãi xứng danh là quê hương văn hiến, mĩ tục khả phong. Có điều gì khiếm khuyết, xin được rộng lòng thông cảm.
Xin cám ơn!

Tháng 5- 2011
Ngọc Thanh
                                                                                    
Ghi chú: - Xin xem thêm bài  ĐÔN THƯ ,  " Đôn Thư truyền thống xưa và nay" và bài thơ " Trường ca Đôn thư" trên trang Đôn Thư Quê Mẹ".

4 Ý kiến

Nặc danh
18:19 27/06/2011

Xin cảm ơn người viết bài này.
Bài thơ "Đôn Thư" cúa cụ Tú Cống tôi đã từng được đọc, nhưng chưa cảm nhận được những cái đẹp, cái hay mà tác giả đã nêu lên trong bài thơ.
Chỉ qua bài viết này tôi mới thấy hết cái đẹp về cảnh vật, con người Đôn Thư trong thơ của Cụ Tú Cống.
Xin cảm ơn!

17:26 01/01/2013

Vừa rồi tôi có xem lại nguyên bản chữ Hán và bản tự dịch bài thơ "Đôn Thư"của cụ Tú tài Nguyễn Văn Cống. Bài thơ Hán rất hay và tôi rất thích, xin mạo muội đóng góp thêm 1 bản dịch, mặc dù tôi thấy cũng chưa phải đã sát nghĩa lắm (nhưng dịch thơ thật khó mà đảm bảo sát đúng nghĩa 100% được)

ĐÔN THƯ
Thơ Nguyễn Văn Cống

Đôn Thư làng thấp, vút tre xanh
Hổ phục voi chầu, thế đất linh
Đông Các quan to, gươm chói nghĩa
Thám Hoa thơ giỏi, bút lừng danh
Ngàn năm đôi rắn ân tình đáp
Một khách đơn thân sự nghiệp thành
Gái đẹp trai tài, thiêng cảnh vật
Xưa nay còn mãi chốn quê mình!

(Nguyễn Hữu Thăng dịch)

NGỌC THANH
22:12 01/01/2013

Đúng là có người đã từng cho rằng: dịch tất phản. Ý nói, người dịch văn học nước ngoài khó có thể chuyển tải được 100% giá trị nội dung, nghệ thuật của nguyên bản. Tôi rất nhất trí và chân thành cảm ơn nhiệt tình, ý kiến khiêm tốn và bản dịch hay của dịch giả Nguyễn Hữu Thăng. Với bản dịch này, thêm một lần nữa, ta được thưởng thức tác phẩm Hán tự có giá trị của cụ tú tài Tây Nguyễn Văn Cống. Thật là thú vị!

Huỳnh Nam
14:55 02/01/2013

Xưa nay còn mãi, thật là đông"
Tôi thấy câu này không được vần và chuẩn với các câu trên, thật đáng tiếc!

Ý kiến của bạn

"MỖI ĐỘC GIẢ CŨNG CÓ THỂ LÀ MỘT TÁC GIẢ"
Ý kiến, bài viết giao lưu xin được viết bằng tiếng Việt có dấu. Đề nghị ghi rõ bút danh hoặc tên thật và địa chỉ để thuận tiện cho việc trao đổi.
- Mã chèn ảnh: [img]link ảnh[/img]
- Mã chèn fim từ youtube: [youtube]link video[/youtube]
Trân trọng cám ơn quý vị và các bạn đã đóng góp ý kiến và giao lưu với ĐTQM.

NHẬN XÉT GẦN ĐÂY

Google+