Ngày 30 tháng 09 năm 2010

NHỮNG DI VẬT CỦA THÁM HOA VŨ PHẠM HÀM

Ngày 30 tháng 09 năm 2010 0 ý kiến

HÌNH ẢNH HAI DI VẬT CỦA THÁM HOA VŨ PHẠM HÀM
Xin cảm ơn tác giả: Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện – Phó giám đốc Thư viện Hán nôm Việt Nam 
1- TẤM ÁO ĐẠI TRIỀU VĂN GIAI

(hiện do hậu duệ của cụ Thám hoa giữ)


Lễ tưởng niệm Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm (1864 – 1906)

1 ý kiến

Nguồn trên trang Họ Phạm Việt Nam                                                            Phạm Vũ Câu
          Hướng tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, ngày 11 tháng 9 năm 2010 Lễ tưởng niệm Thám Hoa Vũ Phạm Hàm do Hội khoa học lịch sử Việt Nam. UBND Xã Kim Thư, Hội đồng gia tộc họ Phạm Vũ Đôn Thư đồng tổ chức đã diễn ra một cách long trọng tại quê hương của Người – Làng Đôn Thư, Xã Kim Thư, Huyện Thanh Oai, Thành Phố Hà Nội.

CHUYỆN CỔ TÍCH LÀNG TA

1 ý kiến


 VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM
CÓ BIA GHI DANH TIẾN SỸ  VŨ CÔNG TRẤN

Xa quê từ thuở ấu thơ,
Về hưu, nay đã bạc phơ mái đầu.
Tâm hồn thấm đượm lắng sâu,
“Ngày xưa”(*)…Mẹ kể từng câu chuyện làng:
-" Có cụ lớn Thượng cao sang,
Đông Các hai nước(1): vẻ vang muôn đời…
 Hồi trọ học thuở thiếu thời.
Đêm, đọc sách, thoáng thấy người ngồi bên,
…Một người con gái dịu hiền…
…Sát kề…thì bỗng biến liền…đùa chơi…
…Xa ra…thoắt hiện thành người…
“Tróc phọc”(2) cụ khoắng lên trời, ra tay…
Yêu nữ buồn lặng, ngồi ngây…
Xin tha, vì sắp rạng ngày…lộ thiên!(3)
ảnh minh họa

- Cụ tha, nhưng phải ưu tiên.
Trình bày số cụ biến thiên thế nào ?
Ngậm ngùi, yêu nữ lao đao!
(Tiết lộ thiên mệnh, tránh sao tội trời).
- Đành lòng rành rọt từng lời:
"Số cụ hiển đạt cuộc đời vinh quang,
Lương thần “ tế thế, kinh bang ”,
Thượng Thư, Đông Các: quan sang trong triều"
- Cụ nghe tường tận mọi điều,
Viết luôn chữ “giải”(4) yêu liền biến ngay.
Thế rồi…sấm động…gió lay…
Miếu yêu tinh bị sập ngay tức thời!
Sau này vinh hiển cuộc đời,
Cảm thương yêu nữ-những lời thành tâm,

Đũa, bát cùng sắp một mâm,
Bữa ăn, cụ khấn tri âm: mời ngồi...
Thuỷ chung, nhân hậu chẳng rời,
Cứu dân thoát hoạ tày trời: tru di!
Làng bạn ân nghĩa nhớ ghi
Hàng năm cúng giỗ khác gì mẹ, cha
Cụ cương trực, ghét gian tà
Cậy quyền ức hiếp, phiền hà nhân dân,
Dâng sớ: xử chém gian thần,
Vua, Chúa vì nể, nhân dân ơn nhờ.
Toàn dân thành kính phụng thờ,
Sáng ngời công đức đời đời nhớ ơn "
Mẹ tôi kể chuyện quê hương.
Lời sao mộc mạc, thân thương, đậm đà.
Tôi nghe như một bài ca…
Nhớ thương mẹ, yêu quê nhà: Đôn Thư.
                                       Việt Thanh-Phạm Vũ Lộc
 Ghi chú:
(1) Cụ Vũ Công Trấn đỗ Đông Các cả hai nước VN và TQ.
(2) Cụ khoắng bút lên trời, viết chữ “tróc phọc” là bắt trói lại.
(3) Yêu ma không biến trước lúc mặt trời mọc là phạm tội.
(4) Giải: tha, giải thoát.
(*) Các cụ kể chuyện cổ tích, thường bắt đầu: Ngày xửa, ngày xưa.


Ngày 29 tháng 09 năm 2010

ẢNH PHONG CẢNH QUÊ HƯƠNG

Ngày 29 tháng 09 năm 2010 0 ý kiến

ĐÔN THƯ TRUYỀN THỐNG XƯA VÀ NAY

Cổng Đình Đôn Thư
Làng Đôn Thư ở phía nam huyện Thanh Oai, có quốc lộ 21 B chạy qua, có dòng sông Đáy thơ mộng hiền hòa, uốn khúc quanh co đặc biệt tạo nên linh khí và là cội nguồn cho hai chữ: Đôn Thư.

 Phía Bắc giáp 2 làng Kim Châu và Kim Thành, Nam giáp làng Chuông (Phương Trung), Đông giáp làng Đỗ Động, Tây giáp làng Văn La thuộc huyện Chương Mỹ. Hiện tại, làng Đôn Thư có hơn 1000 hộ gia đình với trên 3500 nhân khẩu ở 10 xóm, phân thành 4 thôn: Đoàn Kết, Ba Đình, Dũng Tiến, Đồng Tâm với tổng diện tích tự nhiên là 220,26 ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 112,74 ha.

Chưa ai biết hai chữ Đôn Thư có tự bao giờ, nhưng theo trên bài minh quả chuông Chùa Đôn Thư  đúc thời vua Lê Hy Tông - Chính Hòa (1680-1705) thì cái tên ĐÔN THƯ đã có. Đôi câu đối ở Đình làng nhắc đến mô tả cảnh làng “Ngân Phố hà niên, thiên tác hợp; Liên Đàm vạn cổ, địa chung linh” gợi nhớ đến “Phố cá Ngần” ngày nào tấp nập, Đầm Sen xưa tỏa ngát hương thơm.


Quả chuông Chùa Đôn Thư - một trong những quả chuông quý ở nước ta
Dòng sông Đáy chỗ uốn khúc quanh co đang được nhà nước đầu tư xây kè đá
Ngày nay, nhiều người chỉ còn nhớ lại tên xóm xưa cũng có gì đấy mang dáng văn vẻ như: Xóm Bến (xóm 1) Thư trạch Hầu (xóm 3), Khánh Trạch (xóm 4), Cổ Thư Viên (xóm 5), Trung Hòa (xóm 6), Cổ Thư (xóm 7)..... hay tên các gò đất hiện nay còn như: gò Ông Voi (gần Quán Vua), gò Đống Trạc, Đống Sung, Gò Nghè, Ngòi Bút, gò Nghiên, Roi Hổ, Hoàng Xà....

Làng Đôn Thư có Bãi bồi sông Đáy màu mỡ, những cánh đồng ghi dấu ấn một thời với các cái tên ngồ ngộ: Thượng Chòi, Hạ Chòi, Lăng, Khai Sơn, Đội Vua, Sổ, Đìa Ngang, Sông Ý, Khoang, Chằm, Dinh, Chún...

Theo một một số tài liệu sử sách ghi lại thì vùng đất Đôn Thư xưa thuộc trang Thời Trung, Sơn Nam thừa tuyên. Thời Hậu Lê là xã Đôn Thư huyện Thanh Oai, Trấn Sơn Nam Thượng. Thời Nguyễn thuộc tổng Thì Trung, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng. Trước cách mạng 1945 thuộc tổng Phương Trung, huyện Thanh Oai, thời kỳ kháng chiến chống Pháp thuộc xã Kim An, huyện Liên Nam, đến ngày nay thuộc xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.
Cánh đồng Đôn Thư
Bãi bồi xóm bên sông Đáy
Hiện nay, làng còn lưu giữ nhiều truyền thuyết dân gian gắn liền với các dấu tích, di tích  như: các chuyện về Hai ông Lốt (ông Cộc, ông Dài) trong tục thờ thủy thần và dấu tích Đền Hàng Tổng, làng còn kiêng tên húy của Ngài (như tre nứa cộc ngọn nói là “bường”), truyền thuyết về Nhị vị công chúa “công, dung, ngôn, hạnh” “thượng đẳng thần, Mẫu nghi thiên hạ” còn Di tích là Miếu Mộ Đức Thánh Mẫu là di tích lịch sử văn hóa quốc gia, nhiều mẩu chuyện truyền miệng ly kỳ về Quan Đông Các còn các dấu tích như “ao Quan lớn thượng”, Đền thờ và Mộ của Cụ ở làng... chuyện về các vị quận công Dòng họ Nguyễn Hầu nay chỉ còn dấu tích bia đá mòn trơ tại nhà không còn chữ đọc được, chuyện về“Bà Chúa đúc tiền”, chuyện về danh sư dạy 3 vua, chuyện về “thần đồng Đầm sen”  quan Thám vv...
Cây duối cổ thụ có bia đa mòn trơ gần Mộ cụ Vũ Công Trấn vẫn là một bí ẩn về lịch sử
Thời gian đã làm mờ hết các nét trên bia
Đình Đôn Thư
Cây cổ thụ bên Miếu mộ
Phần mộ Đức Thánh Mẫu trong Miếu
Miếu mộ Đức Thánh Mẫu
Mộ cụ Vũ Công Trấn mới được tôn tạo lại năm 2008
Bia mộ Cụ vẫn giữ nguyên
Đình Đôn Thư phụng thờ THÀNH HOÀNG LÀNG Quang Ý Đại Vương là vị cựu thần triều Lý đã có công khai dân lập ấp, lễ Đại kỳ phước vào ngày mồng 3 và mồng 4 tháng 2 âm lịch hằng năm.

Dân làng Đôn Thư luôn tôn kính phụng thờ Bạch Hoa Công chúa, Ngài đã tự chọn mảnh đất yêu quý này hiển thánh, yên nghỉ ngàn đời tại Miếu mộ Đức Thánh Mẫu linh thiêng, tưởng niệm vào ngày 22 và 23 tháng 9 âm lịch hằng năm theo nghi thức như cúng tế Thành Hoàng làng tại Đình và Miếu Đôn Thư.

Dân làng Đôn Thư mãi mãi tự hào, biết ơn, tôn kính phụng thờ Lưỡng quốc  Đông Các Đại học sỹ Vũ Công Trấn, Cụ đỗ Tiến sỹ khoa Giáp Thìn 1724 là quan chính trực, uy phong, chăm lo cho đời sống dân làng, mang nghề vòng nón và những tập tục tốt đẹp cho quê hương, tưởng niệm vào ngày 26 tháng 9 âm lịch hằng năm tại Đền thờ Cụ.

Làng Đôn Thư mãi tự hào về 18 vị quận công dòng họ Nguyễn Hầu, cụ Phạm Vũ Quyền (đời Gia Long thứ 6 – 1807) là người học rộng, tài cao, danh sư dạy 3 vua triều Nguyễn, cụ đã  làm rạng danh văn hóa quê hương như đôi câu đối vua Tự Đức ban tặng: “Sự nghiệp tam Triều vọng; Văn chương nhất Quốc sư”, danh nhân Thám Hoa Vũ Phạm Hàm nổi tiếng thông minh được mệnh danh “Thần đồng Đầm sen” đỗ “Tam nguyên đệ nhất giáp”, cụ đã để lại những áng văn thơ tuyệt tác cho đất nước, quê hương.

Quê hương Đôn Thư mãi tự hào từ xưa tới nay là cái nôi sinh ra nhiều vị học rộng, tài cao, có trí, có nhân, nhiều anh hùng liệt sỹ dũng cảm quên mình, nhiều vị lãnh đạo các cấp, các thời kỳ đã có đóng góp lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.

Văn Chỉ thờ Đức Khổng Tử gần Chợ Đôn Thư
Nhà thờ Công giáo bên sông đang xây dựng
Từ xa xưa, dân làng Đôn Thư đã có sự tổ chức trong dân cư tiến bộ, văn phép, kỷ cương theo “Hương ước Đôn Thư”. Hơn 36 dòng họ trong làng, có đạo Phật giáo và Thiên Chúa giáo thuận hòa, cùng đoàn kết chung sức xây dựng một làng Đôn Thư ngày càng văn minh, giàu đẹp.

 Đôi câu đối cụ Thám viết treo trước Hậu cung Đình làng:

“Giang sơn chung tú linh, liên chi đàm, trúc chi tân, ngân ngư chi phố

Phụ huynh chiếu tử đệ, hương hữu thư, lư hữu sử, minh giám hữu thần”

Năm 1996, ông Phạm Vũ Diên và ôngVũ Công Thái- (đồng tác giả bản Trường ca Đôn Thư) đã viết:



…Thổ hưng thịnh, thế hay linh địa

Nhìn trông kìa bốn phía không sai:

Thiên nhiên cảnh trí an bài,

Tứ linh quần tụ, trong ngoài vòng quanh:

Voi quỳ, hổ phục chầu lên,

Hữu sơn, hữu thuỷ đôi bên hướng về…

... Bởi phong cảnh bốn bề tao nhã

Ông cha ta các ngả về đây

Đức Thánh Phụ tới chốn này,

Khai sinh, tạo lập, dựng xây công đầu

Tiếp nối tiếp càng sau càng phát

Người thêm người chung sức, chung tay,

Hợp thành làng xóm sum vầy,

Trên Ba mươi họ tràn đầy yêu thương.

Họ Lâm, Nguyễn, Tạ, Dương, Đoàn, Vũ

Đào, Bá, Lê, Phạm Vũ, Phạm Văn

Đỗ, Trần, Bùi, Trịnh, Hoàng, Phan…

Trước sau hun đúc nên làng Đôn Thư….

Đôn có nghĩa Nôm từ: Giá Án

Để bút nghiên bầu bạn văn chương.

Thư là: kiến thức khoa trường

Ý ông cha muốn con đường văn khoa.

Chốn địa linh tạo ra nhân kiệt

Đất văn chương oanh liệt bao đời.

Đôn Thư ngay buổi thiếu thời

Dâng non sông những con người tài ba…

…Đất Địa linh: văn thơ ước vọng

Mảnh ruộng nghèo – cuộc sống chân quê

Gian lao nhưng vẫn tràn trề

Dưỡng nuôi trí trẻ chốn quê bao đời….


Về kinh tế, từ xa xưa người dân Đôn Thư đã có nghề trồng dâu, chăn tằm, ươm tơ, và nghề thủ công vòng nón, trên bến, dưới thuyền tấp nập nên xưa ở làng có câu: “thứ nhất làm quan, thứ nhì nan nón”, “nhất cận thị, nhị cận giang”, đời sống dân làng xưa sung túc hơn hẳn các làng bên. Vậy nên có câu:


“Muốn ăn cơm trắng cá trê

Muốn đội nón tốt thì về Đôn Thư”

Mọi người đứng tuổi đã có thời gian sinh sống ở làng có thể nhớ lại cây gạo đầu làng đỏ mùa hoa nở, cổng làng đá ong sừng sững uy nghi, cánh Chằm nước rộng mênh mông cùng dãy ao bên trục đường làng um tùm bóng tre, đêm về cò vạc bay xào xạc, tuổi thơ ai tả mà tưởng tượng như những khu rừng xanh biếc, có sóng nước mênh mang “Ao Quan lớn Thượng”, bến sông “Quản Long” nước trong xanh mát rượi chiều hè cho mọi người bơi tắm đùa vui cùng các “phao chuối” của nhóm con trẻ trong làng, những cuộc thi bơi vượt sông của đám thanh niên cùng những tiếng cười đùa ròn rã của đám gái làng bến trên, hòa trộn khung cảnh chiều hè thơ mộng thêm mát mẻ.
Lịch sử nghìn năm tạo dựng xóm làng, bao thế hệ người Đôn Thư đã ghi dấu ấn truyền thống tốt đẹp cho hai chữ Đôn Thư vào sử sách. Mảnh đất và con người Đôn Thư từ xưa đến nay còn đó, trải qua thăng trầm của lịch sử, người Đôn Thư luôn hay lam, hay làm tạo nên bao sắc màu của cuộc sống. Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nhiều nhà cao tầng đã mọc lên công trình phúc lợi công cộng ngày càng được khang trang, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng cải thiện. Tuy nghề “nan nón” đã mai một nhưng vẫn còn là thu nhập giá trị của một số hộ gia đình trong làng, thay thế vào đó một số nghề mới như chế biến lương thực, thực phẩm, mộc, cơ khí đang có đà phát triển. Nghề nông còn nhiều trăn trở với thu nhập thấp cũng khởi đầu tìm được hướng ra cho một số hộ làm vườn trang trại trồng cây có giá trị hơn cây ngô truyền thống vùng Bãi, nhưng để tìm được hướng đi cho sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, phát huy lợi thế “cận thị” làm tăng giá trị và hiệu quả canh tác cho sản xuất nông nghiệp vẫn đang là bài toán khó giải.

Trang trại vùng Bãi làm vườn
Nghề cơ khí được thay thế dần nghề vòng nón

 Theo nhịp sống thời đại mới, các hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa, xây dựng, dịch vụ đang trên đà phát triển, nhưng vấn đề đặt ra về môi trường, giao thông, cảnh quan của làng lại đang là vấn đề cần được quan tâm tập trung giải quyết.

Trường làng xưa là hai Dải Vũ ở Đình, nay con em làng đã được học ở Trường Mầm non, Trường Tiểu học, Trường THCS xã được xây dựng khang trang, thiết bị dạy học được tăng cường, việc khuyến học đã được thực hiện ở một vài dòng họ, tuy nhiên về chất lượng giáo dục ở địa phương lại đang là mối quan tâm của nhiều người để làm sao cho xứng với truyền thống hiếu học của quê hương. 
Ngày khai giảng năm học mới Trường Tiểu học Kim Thư
Buổi chào cờ đầu tuần

 Sông Hát dài mạch sách

Đầm sen bát ngát hương

Thần ban phúc dân ta

Văn mạch giữ lâu dài.


Cãi lộn dễ kiện tụng

Chơi bời sinh trộm cướp

Thần ban phúc dân ta

Thói xấu mãi xa rời.


Dân ta có gia thất

Ai cũng lo nghiệp nhà

Thần ban phúc dân ta

Mãi mãi được bình yên.


Dân ta có cha anh

Ai cũng biết hiếu đễ

Thần ban phúc dân ta

Mãi mãi không ngang trái.

Đôn Thư có rất nhiều người làm việc ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực và định cư ở khắp nơi trên cả nước và ở nước ngoài, nhiều người vẫn luôn  nhớ về cội nguồn, tự hào về truyền thống và hướng về quê hương, dõi theo sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của làng còn băn khoăn trăn trở về nhịp phát triển của quê hương thấy còn chậm hơn so với mặt bằng chung của các địa phương lân cận.

Tối đến mọi người rủ nhau vừa làm nón vừa tâm sự và xem ti vi
Nghề vòng, lao động phụ và người già vẫn có thể tham gia
Một phần thu nhập lớn trong lúc nông nhàn
    Ngày nay, công cuộc đổi mới đất nước thực hiện nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, giao lưu quốc tế, ý nghĩa của việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá Dân tộc, mà văn hoá làng quê có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho sự phát triển bền vững. Xây dựng văn hoá làng chính là đấu tranh xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, bảo thủ, trì trệ kìm hãm sự phát triển của xã hội, cùng với đó là khai thác, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của quê hương, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để phát triển xây dựng xã hội văn minh.

  Hiện tại, dân số phát triển, làng mở rộng hơn xưa: 10 xóm có tổ chức cơ sở ở 4 thôn, vì vậy, Đảng bộ xã Kim Thư đang quan tâm lãnh đạo tổ chức hoạt động của làng Đôn Thư tạo sự thống nhất cao giữa các xóm, các thôn, động viên mọi tầng lớp người dân Đôn Thư xa, gần phát huy được tiềm năng, trí tuệ của mảnh đất, con người Đôn Thư mà tích cực học tập và lao động sáng tạo, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, xây dựng quê hương Đôn Thư ngày càng văn minh, giàu đẹp, xứng với truyền thống quê hương “Mỹ tục khả phong”.


"....Bao người con của đất này,

Từ trên chí dưới: Chung xây dốc lòng...

                 ...Tài và Đức cả hai hun đúc,

                    Đẹp Đôn Thư “Mỹ tục khả phong
Gần xa, đồng chí, đồng lòng,

Thành rừng thông....dẫu bão giông...trường tồn...

...Đầm Sen tỏa sáng bốn bề

Dòng sông Đáy mãi tràn trề xanh trong..."

                                                 Đôn Thư, ngày 29/9/2010

                                                             Trần Hợp

Cây cổ thụ uốn mình trên nóc Ngôi Miếu mộ Thiên táng Đức Thánh Mẫu 

CHUNG MỘT DÒNG SÔNG

0 ý kiến

 Phạm Vũ Quí xướng

Cùng dòng Sông Dĩ(1)  phải đâu xa,

Lộc quí (*) chung vui hưởng phúc nhà:

Một gốc nay dành sinh vạn quả,

Hai nhành(2) xưa để nở muôn hoa.

Mầm nhân bồi đắp cây tươi tốt,
Chồi đức trồng vun lá mượt mà.

Con thảo, cháu hiền gìn giữ mãi,

Nhị hương vốn có thực không ngoa.

                                                               

Phạm Vũ Lộc Hoạ1:


 Ngược dòng lịch sử chẳng bao xa,

Gương sáng Tổ Tiên dựng nếp nhà.

Tiền bối vun trồng cây nẩy lộc(*),

Hậu sinh tô điểm gấm thêm hoa.

Anh em quí(*) trọng tình đằm thắm,

Con cháu thân thương ý mặn mà

Xưa đã tu nhân, nay tích đức,

Đời đời hiển đạt, có gì ngoa? 


Ghi chú(1)  Theo Hán tự, chữ Dĩ và chữ Thuỷ hợp lại thành chữ Phạm

                                    (2)  Song chi, bát hệ của Họ Phạm.

                                    (*)    Tên hai tác giả xướng, hoạ thơ: Lộc, Quí.


Phạm Vũ Hanh (Dật)  Hoạ 2:


Trải ba thế kỷ phải đâu xa?

Họ Phạm Đôn Thư dựng nghiệp nhà…

Luyện vũ công hầu mau kết quả,

Khoa văn kim cổ sớm khai hoa.

Thám hoa truyền thống xưa còn đó,

Tiến sĩ văn chương mới nối mà.

Di phúc Tổ Tiên như biển cả,

Dành cho con, cháu chẳng sai ngoa.

                         

Phạm Vũ Thanh Hoạ 3:


Tương lai tươi thắm chẳng còn xa,

Con, cháu lớn khôn rạng nếp nhà.

Hạnh phúc ngàn năm - mùa kết quả,

Vẻ vang vạn cổ - lứa đơm hoa.

Qua rồi - nỗi khổ xưa gian khó,

Đến đó - niềm vui mới mặn mà.

Chào đón bình minh đà toả sáng,

“Hậu sinh khả uý” - quả không ngoa.

XƯỚNG HOẠ 1000 NĂM

0 ý kiến


NGÀN NĂM VĂN VẬT ĐẤT THĂNG LONG


Phạm Vũ Quí xướng:
Ngàn năm văn vật đất Thăng Long,
Tô đẹp giang sơn, rạng giống dòng:
Hoàng Diệu ức niên lưu khí tiết,
Quang Trung vạn cổ trấn uy phong.
Gươm thần Hoàn Kiếm giành non nước,
Đuốc Đảng Ba Đình rõ núi sông.
Tươi thắm đời đời trang sử mới,
Ngàn năm văn vật đất Thăng Long.
Phạm Vũ Lộc Hoạ:
Ngàn năm văn vật đất Thăng Long,
Triều Lý dựng đô vững giống dòng:
Đắc địa, an dân truyền mỹ tục,
Thuận Thiên, kiến quốc dẫn thuần phong.
Bình Chiêm - Chiến tích yên bờ cõi,
Phá Tống - võ công giữ núi sông.
Trang sử vẻ vang ghi nhớ mãi, 
Ngàn năm văn vật đất Thăng Long.

NHẬN XÉT GẦN ĐÂY

Google+